Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018
Thứ Tư, 16 tháng 5, 2018
bao cao PSC
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Kiểm tra PSC đối với đội tàu biển Việt
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
(Ngày đưa tin: 23/09/2009)
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Trong những năm qua, vấn đề tàu biển Việt
Mặc dù chúng ta đã có nhiều cố gắng, nhưng kết quả chưa đạt
được như mong muốn, tình trạng đội tàu biển mang cờ Việt Nam từ năm 2003 đến
nay luôn nằm trong “Danh sách đen” của Tokyo MOU. Điều này không những gây ra
thiệt hại về mặt tài chính và thương hiệu của mỗi chủ tàu có tàu bị lưu giữ
mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín chung của đội tàu biển Việt Nam, ngành hàng hải
Việt Nam, góp phần tạo ra những khó q khăn cho các tàu biển Việt Nam hoạt động
trên các tuyến quốc tế
Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, sớm đưa đội tàu biển Việt
Nam ra khỏi “Danh sách đen” của Tokyo MOU và nâng cao uy tín của đội tàu Việt
Nam trên thế giới, tháng 3 năm 2006 Cục hàng hải Việt Nam đã phối hợp với Cục
Đăng kiểm Việt Nam tổ chức hội nghị “Thống nhất các biện pháp giảm thiểu, tiến
tới loại trừ việc tàu biển Việt Nam bị lưu giữ qua kiểm tra PSC”. Cùng với
các biện pháp do Cục Đăng kiểm Việt Nam, các Chủ tàu thực hiện, công tác kiểm
tra tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế được tăng cường, nên trong thời
gian 6 tháng cuối năm 2006 và cả năm 2007 tình trạng tàu biển Việt Nam bị lưu
giữ trong khu vực Tokyo MOU đã giảm đáng kể, thấp nhất trong vòng 7 năm qua.
Tuy nhiên, năm 2008 số lượt tàu biển Việt
Để sớm đưa đội tàu biển Việt Nam ra khỏi “Danh sách đen” của
Tokyo MOU, ngày 22-7-2009, Cục Hàng hải Việt Nam tiếp tục tổ chức Hội nghị
“Thống nhất các biện pháp giảm thiểu, tiến tới loại trừ việc tàu biển Việt
Nam bị lưu giữ qua kiểm tra PSC tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” nhằm thống
nhất các biện pháp tăng cường nhằm giảm thiểu, tiến tới loại trừ việc tàu biển
Việt Nam bị lưu giữ qua kiểm tra các PSC.
Công tác kiểm tra của Nhà nước cảng biển –
|
Tính chất các khiếm khuyết (kh/kh)
|
Số lượng kh/kh
|
Tỷ lệ lưu giữ
|
Giấy chứng nhận và
tài liệu của tàu
|
251
|
3.22%
|
Giấy chứng nhận khả
năng chuyên môn và trực ca của thuyền viên
|
60
|
0.77%
|
Trang bị cứu sinh
|
985
|
12.63%
|
An toàn chống cháy
|
1574
|
20.19%
|
Ổn định, cấu trúc
và các thiết bị liên quan
|
414
|
5.31%
|
Chở hàng và chở
hàng nguy hiểm
|
43
|
055%
|
Mạn khô
|
428
|
5.49%
|
Máy chính và máy phụ
|
277
|
3.55%
|
An toàn hàng hải
|
1630
|
20.91%
|
Thông tin liên lạc
VTĐ
|
367
|
4.71%
|
Tàu chở dầu, chở
hoá chất và chở gas
|
14
|
0.18%
|
Các an toàn bổ sung
đối với tàu chở hàng rời
|
6
|
0.08%
|
Thuyền viên và khu
vực sinh hoạt (ILO 147)
|
21
|
0.27%
|
Lương thực, thực phẩm
và nước uống (ILO 147)
|
20
|
0.26%
|
Khu vực làm việc
(ILO 147)
|
41
|
0.53%
|
Phòng ngừa tai nạn
(ILO 147)
|
82
|
1.05%
|
Trang bị chằng buộc
tàu (ILO 147)
|
33
|
0.42%
|
MARPOL, Phụ lục I
|
474
|
6.08%
|
MARPOL, Phụ lục II
|
4
|
0.05%
|
MARPOL, Phụ lục III
|
6
|
0.08%
|
MARPOL, Phụ lục IV
|
18
|
0.23%
|
MARPOL, Phụ lục V
|
187
|
2.40%
|
MARPOL, Phụ lục VI
|
43
|
0.55%
|
Khiếm khuyết vận
hành liên quan đến MARPOL
|
33
|
0.42%
|
Khiếm khuyết vận
hành liên quan đến SOLAS
|
324
|
4.16%
|
Khiếm khuyết liên
quan đến ISM
|
188
|
2.41%
|
Các biện pháp bổ
sung để nâng cao an ninh hàng hải
|
180
|
2.31%
|
Các biện pháp bổ
sung để nâng cao an ninh hàng hải
|
62
|
0.80%
|
Các khiếm khuyết
khác
|
7
|
0.09%
|
Tổng cộng:
|
7797
|
100%
|
Qua bảng tổng hợp trên cho thấy, các khiếm khuyết liên quan
đến an toàn chống cháy, an toàn hàng hải, trang bị cứu sinh, mạn khô, MARPOL
Phụ lục I là những khiếm khuyết thường gặp của đội tàu biển Việt Nam cũng như
thế giới.
Nguyên nhân chủ yếu của các khiếm khuyết dẫn đến
việc tàu bị lưu giữ
1.
Đội tàu biển Việt Nam chạy tuyến quốc tế trong thời
gian vừa qua phát triển quá nhanh chóng, ra đời thêm rất nhiều các chủ tàu
khai thác tàu tuyến quốc tế, đặc biệt là các chủ tư nhân. Một bộ phận không
nhỏ các chủ tàu này chưa có đủ năng lực và kinh nghiệm trong việc quản lý,
khai thác tàu tuyến quốc tế. Một vài chủ tàu đã đưa các tàu chỉ được phép hoạt
động trong vùng biển Việt Nam ra khai thác tuyến quốc tế, do đó việc các chủ
tàu này bị lưu giữ là không thể tránh khỏi.
2.
Một số chủ tàu, đặc biệt là các chủ tàu nhỏ, chưa có sự
quan tâm đầy đủ đến công tác sửa chữa, bảo dưỡng và trang bị cho tàu; công
tác bảo dưỡng thường xuyên để duy trì trạng thái kỹ thuật tàu không được thực
hiện một cách thoả đáng.
3.
Cũng do đội tàu phát triển quá nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt
trầm trọng trong đội ngũ sĩ quan và thuyền viên, đặc biệt là sĩ quan và thuyền
viên đi tàu chạy tuyến quốc tế. Một bộ phận không nhỏ sĩ quan, thuyền viên
chưa thực sự có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và tính mẫn cán
đáp ứng các yêu cầu công việc trên các tàu chạy tuyến quốc tế.
4.
Sự hiểu biết của một số chủ tàu và sĩ quan về các quy định
an toàn và phòng ngừa ô nhiễm môi trường của các điều ước quốc tế hết sức hạn
chế.
5.
Đội tàu biển chạy tuyến Việt Nam chạy tuyến quốc tế quá già
cũ, một số tàu được đóng mới trong nước thời kỳ bao cấp chưa thực sự đáp ứng
được các yêu cầu của các điều ước quốc tế. Sự bung ra của các cơ sở đóng tàu
trong thời gian qua, đặc biệt là các cơ sở nhỏ của địa phương và tư nhân chưa
có đủ năng lực đóng tàu chạy tuyến quốc tế, việc sử dụng các trang thiết bị
cũ để đóng tàu… cũng là nguyên nhân dẫn đến các khiếm khuyết của tàu.
6.
Do đội tàu biển Việt Nam nằm trong “Danh sách đen” của
Tokyo MOU, nên đội tàu Việt Nam bị chú ý kiểm tra 100% ở các cảng quốc gia
thành viên Tokyo MOU.
7.
Các quy định về an toàn và phòng ngừa ô nhiễm của các điều
ước quốc tế thay đổi một cách quá nhanh chóng, làm cho các chủ tàu không thể
đáp ứng đầy đủ theo đúng thời hạn quy định.
8.
Việc tăng giá nhiên liệu, sắt thép, giá sửa chữa,… trong thời
gian gần đây và cước vận tải, giá thuê tàu giảm, dẫn đến một số chủ tàu phải
giảm thiểu các chi phí trang bị thường xuyên, bảo dưỡng và sửa chữa tàu.
9.
Vẫn còn hiện tượng chưa cương quyết trong việc yêu cầu khắc
phục các khiếm khuyết của tàu tại các đợt giám sát kỹ thuật, trước khi cấp giấy
phép cho tàu rời cảng.
Các biện pháp đã áp dụng và sẽ áp dụng nhằm giảm thiểu hiện
tượng tàu biển Việt Nam
bị lưu giữ tại các cảng biển nước ngoài qua kiểm tra PSC
Hội nghị lần này nhắc lại những biện pháp đã được thống nhất
nêu trong Hội nghị tháng 3/2006, nhằm giảm thiểu hiện tượng tàu biển Việt Nam
bị lưu giữ tại các cảng biển nước ngoài qua kiểm tra PSC, đó là:
1.
Cục Hàng hải Việt Nam
·
Yêu cầu các Cảng vụ hàng hải phải kiểm tra các tàu bị lưu
giữ ở các cảng biển nước ngoài ngay khi tàu về đến cảng biển Việt Nam
và yêu cầu các tàu phải khắc phục các khiếm khuyết còn tồn tại.
·
Bảo đảm 100% tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế được
kiểm tra vào thời điểm thích hợp trước khi nhận hàng xuất khẩu hoặc trước khi
rời cảng đi các cảng nước ngoài (đối với các tàu chạy ballast), nội dung kiểm
tra như kiểm tra PSC và chỉ cấp phép rời cảng cho tàu khi các khiếm khuyết
phát hiện được qua kiểm tra đã được khắc phục.
·
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các nội dung, yêu cầu kiểm
tra PSC của IMO và Tokyo MOU đến cho các công ty quản lý tàu, sĩ quan và thuyền
viên của tàu.
·
Phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị chức năng trong việc
thu nhập, cung cấp thông tin về kiểm tra PSC đối với đội tàu biển Việt Nam để
kịp thời chỉ đạo áp dụng biện pháp khắc phục.
·
Phối hợp với các cơ sở đào tạo, huấn luyện sĩ quan, thuyền
viên trong việc cải tiến nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện chuyên
môn nghiệp vụ; cập nhật quy định pháp luật hàng hải quốc tế; nâng cao trình độ
Anh ngữ chuyên ngành.
·
Rà soát để đề nghị bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật
chuyên ngành nhằm nâng cao an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
từ lâu.
·
Nghiên cứu, đề xuất phương thức cung ứng thuận lợi, kinh tế
các tài liệu, ấn phẩm hàng hải bắt buộc phải có trên tàu biển hoạt động tuyến
quốc tế.
2.
Cục Đăng kiểm Việt Nam
·
Nâng cao chất lượng giám sát kỹ thuật trong đóng mới và sửa
chữa tàu, đảm bảo các tàu khi xuất xưởng tuân thủ đầy đủ các quy định của quy
phạm và các điều ước quốc tế, không còn khiếm khuyết dẫn đến việc tàu bị lưu
giữ.
·
Kiểm soát chặt chẽ công việc kiểm tra tàu của các đăng kiểm
viên, đảm bảo tất cả các tàu đều được kiểm tra đủ, đúng khối lượng theo quy định,
đăng kiểm viên không được tuỳ tiện miễn giảm các khiếm khuyết của tàu. Quy
trách nhiệm và xử lý thích đáng các đăng kiểm viên liên quan đến tàu bị lưu
giữ. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao trình độ các đăng kiểm viên tàu biển.
·
Tăng cường khối lượng kiểm tra, đặc biệt là tại các đợt kiểm
tra định kỳ, đối với các tàu nhiều tuổi, tàu có tình trạng kỹ thuật hạn chế,
tàu chở dầu, tàu chở hàng rời và tàu chở hàng nguy hiểm; lập danh sách các
tàu có nguy cơ bị lưu giữ cao/ tàu có tình trạng kỹ thuật hạn chế, thông báo
cho các chủ tàu và đăng kiểm viên để có sự quan tâm đặc biệt đến các tàu này.
·
Kiểm soát nghiêm ngặt công tác đăng kiểm do các tổ chức
Đăng kiểm nước ngoài thực hiện theo sự uỷ quyền của Cục Đăng kiểm Việt Nam đối
với các tàu biển Việt Nam; trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ với các tổ
chức này để giải quyết các tàu Việt Nam mang cấp của họ bị lưu giữ.
·
Thành lập Nhóm Đăng kiểm viên cơ động của Cục (từ tháng
4-2004) để trực tiếp tổng kiểm tra các tàu chạy tuyến quốc tế sau khi hoàn
thành đóng mới và sửa chữa định kỳ. Thực hiện việc tổng kiểm tra tình trạng kỹ
thuật và giám sát việc khắc phục khiếm khuyết do Chính quyền cảng đưa ra đối
với tất cả các tàu bị lưu giữ.
·
Hàng năm xuất bản “Hướng dẫn bảo dưỡng trên tàu” và “Hướng
dẫn khắc phục các khiếm khuyết PSC”, cấp phát cho tất cả các chủ tàu và từng
tàu.
·
Cập nhật đầy đủ danh mục thời hạn kiểm tra, các quy định mới
của các điều ước quốc tế và hướng dẫn áp dụng các quy định này cho từng tàu,
thông báo cho các chủ tàu bằng văn bản và qua trang tin điện tử của Cục Đăng
kiểm Việt Nam.
·
Thông báo cho các Chính quyền cảng việc lưu giữ tàu vì các
lý do không thoả đáng, có sự can thiệp kịp thời để giúp cho tàu được giải
phóng trong thời gian sớm nhất.
3.
Đối với các chủ tàu
·
Công ty tàu cần có biện pháp phối hợp trong việc kiểm soát
chất lượng, quá trình công tác của thuyền viên, nhằm loại bỏ những thuyền
viên yếu kém về tay nghề và đạo đức nghề nghiệp.
·
Nâng cao tính tuân thủ của thuyền viên đối với Hệ thống quản
lý an toàn và chất lượng.
·
Tăng cường công tác bảo quản bảo dưỡng tàu, xây dựng kế hoạch
cụ thể để có phương án sửa chữa ở hai đầu bến và tận dụng năng lực bảo quản bảo
dưỡng của thuyền viên khi tàu hành trình trên biển.
·
Quán triệt cho hàng ngũ thuyền viên (nhất là thuyền trưởng)
trong công tác ngoại giao, ứng xử với PSC nhằm tạo ra không khí làm việc thân
thiện và hợp tác.
·
Nâng cao chất lượng công tác bảo dưỡng, bảo quản, sửa chữa
tàu, chú trọng từng trang thiết bị cho tàu theo đúng quy phạm, công ước.
·
Đào tạo, hướng dẫn và nâng cao nhận thức của sĩ quan, thuyền
viên về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ. Đề cao ý thức
trách nhiệm của thuyền viên trong vận hành – khai thác tàu.
·
Cải tiến Hệ thống Quản lý an toàn, khắc phục triệt để những
khiếm khuyết do PSCO chỉ ra bằng cách khắc phục những sự không phù hợp còn tồn
tại trong những quy trình then chốt của Hệ thống, chú trọng đến tính hiệu quả
của Hệ thống.
Mặc dù các cơ quan, đơn vị có liên quan đã tích cực triển
khai các biện pháp nêu trên, tuy nhiên, số lượt tàu Việt Nam bị lưu giữ ở các
cảng biển nước ngoài, đặc biệt là trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn
có chiều hướng gia tăng. Do đó, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục áp dụng
quyết liệt các biện pháp nêu trên, Cục Hàng hải Việt Nam kiến nghị các cơ
quan, đơn vị có liên quan triển khai một số công việc như sau:
· Nâng cao nhận thức và
trách nhiệm, phân loại và đánh giá nguyên nhân, đưa ra biện pháp sửa đổi cải
tiến trong công tác phối hợp giữa các cơ quan.
· Tăng cường công tác kiểm
tra xử lý, cụ thể là các Cảng vụ hàng hải cần mạnh dạn thực hiện các chế tài,
tránh tình trạng nể nang.
· Nghiên cứu lập qui
trình kiểm tra chủ yếu nhằm vào các khiếm khuyết mà tàu đã bị lưu giữ.
· Thông báo công khai tên
các tàu và chủ tàu có tàu bị lưu giữ.
· Phối hợp giữa Cục Hàng
hải Việt Nam và Cục Đăng
kiểm Việt Nam
đào tạo bắt buộc thuyền viên và công ty có tàu bị lưu giữ, học theo phương
pháp đào tạo thực hành tại chỗ.
· Kiểm tra 100% tàu biển
Việt Nam
chạy tuyến Quốc tế, ưu tiên các tàu bị lưu giữ ở nước ngoài.
· Làm rõ trách nhiệm của
các Cảng vụ hàng hải có tàu xuất cảnh từ khu vực mình quản lý đi nước ngoài bị
lưu giữ. Trách nhiệm cá nhân của các cán bộ Cảng vụ hàng hải và các Đăng kiểm
viên.
· Nếu tàu bị lưu giữ nhiều
lần thì không cho tàu đó chạy tuyến nước ngoài hoặc phải treo cờ nước ngoài –
đây là một trong những biện pháp mạnh mà Trung Quốc, Hàn Quốc đã áp dụng
trong thời gian qua nhằm hạn chế số lượt tàu treo cờ mình bị lưu giữ.
· Tăng cường kiểm tra PSC
đối với tàu của các nước hay giữ tàu Việt Nam .
· Nâng cao năng lực của
PSCO.
· Các Cảng vụ hàng hải có
tàu chạy nước ngoài nhưng chưa có sĩ quan kiểm tra PSC cử người có nghiệp vụ
kiểm tra tàu biển ra các Cảng vụ hàng hải Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Đà
Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Thơ để
đào tạo huấn luyện thực tế trên các tàu, nhằm đảm bảo có thể tự kiểm tra được
tàu tại khu vực phụ trách.
· Đề nghị các chủ tàu cập
nhật các thông tin qua mạng của Cục Hàng hải Việt Nam
và Cục Đăng kiểm Việt Nam
hoặc thông qua các Chi cục và các Cảng vụ hàng hải.
Hy vọng, qua Hội nghị này, các cơ quan hữu quan cùng chủ
tàu sẽ thống nhất được các biện pháp tăng cường cần áp dụng nhằm giảm thiểu,
tiến tới loại trừ việc tàu biển Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài qua kiểm tra
PSC.
Trong những năm qua, vấn đề tàu biển Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài qua
kiểm tra PSC luôn giành được sự quan tâm đặc biệt của những người làm công
tác hàng hải.
Mặc dù chúng ta đã có nhiều cố gắng, nhưng kết quả chưa đạt
được như mong muốn, tình trạng đội tàu biển mang cờ Việt Nam từ năm 2003 đến
nay luôn nằm trong “Danh sách đen” của Tokyo MOU. Điều này không những gây ra
thiệt hại về mặt tài chính và thương hiệu của mỗi chủ tàu có tàu bị lưu giữ
mà còn làm ảnh hưởng đến uy tín chung của đội tàu biển Việt Nam, ngành hàng hải
Việt Nam, góp phần tạo ra những khó khăn cho các tàu biển Việt Nam hoạt động
trên các tuyến quốc tế
Nhằm khắc phục tình trạng nêu trên, sớm đưa đội tàu biển Việt
Nam ra khỏi “Danh sách đen” của Tokyo MOU và nâng cao uy tín của đội tàu Việt
Nam trên thế giới, tháng 3 năm 2006 Cục hàng hải Việt Nam đã phối hợp với Cục
Đăng kiểm Việt Nam tổ chức hội nghị “Thống nhất các biện pháp giảm thiểu, tiến
tới loại trừ việc tàu biển Việt Nam bị lưu giữ qua kiểm tra PSC”. Cùng với
các biện pháp do Cục Đăng kiểm Việt Nam, các Chủ tàu thực hiện, công tác kiểm
tra tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế được tăng cường, nên trong thời
gian 6 tháng cuối năm 2006 và cả năm 2007 tình trạng tàu biển Việt Nam bị lưu
giữ trong khu vực Tokyo MOU đã giảm đáng kể, thấp nhất trong vòng 7 năm qua.
Tuy nhiên, năm 2008 số lượt tàu biển Việt Nam bị lưu giữ có xu hướng tăng.
Để sớm đưa đội tàu biển Việt Nam ra khỏi “Danh sách đen” của
Tokyo MOU, ngày 22-7-2009, Cục Hàng hải Việt Nam tiếp tục tổ chức Hội nghị
“Thống nhất các biện pháp giảm thiểu, tiến tới loại trừ việc tàu biển Việt
Nam bị lưu giữ qua kiểm tra PSC tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương” nhằm thống
nhất các biện pháp tăng cường nhằm giảm thiểu, tiến tới loại trừ việc tàu biển
Việt Nam bị lưu giữ qua kiểm tra các PSC.
Công tác kiểm tra của Nhà nước cảng biển – Port State
Control (PSC) là gì?
Hầu như trong tất cả các điều ước quốc tế về an toàn hàng hải
và phòng ngừa ô nhiễm môi trường do Tổ chức Hàng hải Quốc tế (IMO) và Tổ chức
Lao động Quốc tế (ILO) đều có các quy định về kiểm tra. Theo đó, Chính phủ của
quốc gia có cảng có quyền kiểm tra xem các tàu biển nước ngoài khi hoạt động
tại các cảng, bến xa bờ của mình có chấp hành đầy đủ các điều ước quốc tế về
an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường mà mình là thành viên hay
không, cụ thể là các quy định:
· Quy định 19, Chương I
Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển, 1974 (SOLAS 74);
· Quy định 6, Chương IX
Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển, 1974 (SOLAS 74);
· Quy định 4, Chương XI-1
Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển, 1974 (SOLAS 74);
· Quy định 9, Chương XI-2
Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển, 1974 (SOLAS 74);
· Điều 21, Công ước quốc
tế về mạn khô, 1966 (LOADLINE 66);
· Điều 5, 6 Công ước quốc
tế về phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ tàu, 1973/1978 (MARPOL 73/78);
· Quy định 8A, Phụ lục I
Marpol 73/78;
· Quy định 15, Phụ lục II
Marpol 73/78;
· Quy định 8, Phụ lục III
Marpol 73/78;
· Quy định 8, Phụ lục V
Marpol 73/78;
· Quy định 10, Phụ lục VI
Marpol 73/78;
· Quy định 11, Phụ lục VI
Marpol 73/78;
· Điều X, Công ước quốc tế
về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp Giấy chứng nhận và trực ca của thuyền viên 1978
(STCW 78);
· Quy định I/4, Công ước
quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp Giấy chứng nhận và trực ca của thuyền
viên 1978 (STCW 78);
· Điều X, Công ước quốc tế
về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp Giấy chứng nhận và trực ca của thuyền viên 1978
(STCW 78);
· Điều 12, Công ước quốc
tế về đo dung tích tàu biển 1969 (Tonnage69);
· Điều 4, Công ước ILO
N0. 147
Như vậy, công tác kiểm tra PSC không phải là vấn đề mới và
việc kiểm tra này có đầy đủ cơ sở pháp lý của nó. Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng
định rằng kiểm tra PSC mang tính chất bổ sung cho kiểm tra của quốc gia tàu
mang cờ quốc tịch - kiểm tra của Chính quyền hàng hải và của Cơ quan phân cấp.
Chính vì vậy, gần đây trong lĩnh vực an toàn hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi
trường từ tàu, khái niệm “lá chắn” hay “barie” cuối cùng được gắn cho công
tác kiểm tra PSC với mục đích đảm bảo việc tuân thủ nghiêm hơn, triệt để hơn
các điều ước quốc tế về an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự ra đời của
các tàu siêu trường, siêu trọng đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế trong vận tải
biển, nhưng đồng thời nó cũng đã làm phát sinh và tiềm ẩn nguy cơ các hiểm hoạ
cho sinh mạng con người trên biển cũng như môi trường biển - những vấn đề
mang tính toàn cầu. Do đó, hoạt động PSC - hoạt động góp phần ngăn ngừa các
hiểm hoạ cũng đã trở thành mối quan tâm của cộng đồng hàng hải quốc tế. Điều
này thể hiện bằng sự hợp tác ở cấp khu vực trên quy mô toàn cầu về kiểm tra của
Nhà nước cảng biển.
Đến nay, sau sự thành công của Hiệp định hợp tác khu vực đầu
tiên về kiểm tra của Nhà nước cảng biển - Thoả thuận Paris MOU năm 1982, đã
có tất cả 9 thoả thuận khu vực về kiểm tra của Nhà nước cảng biển. Đó là:
· Paris MOU – khu vực Châu Âu
và Bắc Mỹ;
· Thoả thuận Acuerdo de
Vinax del
Mar – khu vực Mỹ La Tinh;
· Tokyo MOU – Khu vực Châu Á –
Thái Bình Dương;
· Carribean MOU – Khu vực
Carribean;
· Mediterranean MOU – Khu
vực Biển Địa Trung Hải;
· Indian Ocean MOU – Khu
vực Ấn Độ Dương;
· Abuja MOU – Khu vực Tây và
Trung Phi;
· Black Sea MOU – Khu vực
biển Đen;
· Riyadh MOU – Khu vực Vùng Vịnh.
(Việt Nam là thành viên của thoả thuận Tokyo MOU, gồm 18
thành viên – các quốc gia trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, từ ngày
1-1-1999).
Với mạng lưới các MOU bao phủ hầu hết các biển và đại dương
như vậy, rõ ràng rằng, sẽ không còn cơ hội cho các tàu dưới tiêu chuẩn tồn tại
trong vận tải biển.
Mục đích của sự hợp tác khu vực thông qua các MOU trong
lĩnh vực PSC là nhằm thống nhất thủ tục, nội dung cũng như các biện pháp xử
lý đối với tàu tồn tại các khiếm khuyết qua kiểm tra. Đồng thời, điều này
cũng nhằm mục đích loại trừ sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các cảng và
tránh việc kiểm tra lặp lại tại các cảng mà tàu ghé vào. Quy trình chung thực
hiện việc kiểm tra PSC đã được Đại hội đồng IMO thông qua tại Nghị quyết
A.787(19) và đã được sửa đổi bởi Nghị quyết 882(21) và Sổ tay hướng dẫn kiểm
tra của Nhà nước cảng biển của từng MOU.
Thực trạng tàu biển Việt Nam bị kiểm
tra và bị lưu giữ
Từ tháng 2-2004 tại PSCC13, Uỷ ban Tokyo MOU đề cập đến
“Danh sách đen”. Vào tháng 11-2004, tại PSCC11, việc xây dựng và phát hành
danh sách đen đã được quyết định. Trong danh sách đen, phần được đánh dấu màu
đỏ hoặc màu cam của Danh sách đen – có nghĩa là tàu sẽ được các PSCO của các
nước trong khu vực đặc biệt quan tâm.
Đồng thời, cũng từ năm 2004, Uỷ ban Tokyo MOU đã đưa vào sử
dụng Hệ thống lựa chọn tàu để kiểm tra thông qua việc tính điểm cho từng con
tàu. Việc tính điểm này dựa trên các tiêu chí như: cờ quốc tịch của tàu, tuổi
tàu cao, loại tàu, các khiếm khuyết đã phát hiện được trong 4 lần kiểm tra gần
nhất, số lần tàu bị lưu giữ trong 4 lần kiểm tra gần nhất; cơ quan phân cấp
tàu là thành viên hoặc không là thành viên IACS, ... Tàu có điểm cao sẽ được
các PSCO ưu tiên kiểm tra. Đội tàu Việt Nam luôn bị điểm cao, do đó số lượt
tàu Việt Nam bị kiểm tra trong năm 2006, 2007, 2008 và sáu tháng đầu năm 2009
đều có xu hướng tăng.
Ngoài đặc điểm chung như các quốc gia khác trong khu vực là
số lượt cũng như tỷ lệ các tàu hàng bách hoá bị lưu giữ luôn duy trì ở mức
cao, thì số lượt và tỷ lệ các tàu container, tàu chở dầu, chở khí của Việt
Nam bị lưu giữ cũng đang có chiều hướng gia tăng.
Trong các năm gần đây, các tàu biển Việt Nam bị PSCO của
Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore tăng cường kiểm tra, phát hiện nhiều khiếm
khuyết và lưu giữ tàu. Do đó, các tàu của Việt Nam khi chuẩn bị đến các quốc gia
này cần lưu ý đặc biệt quan tâm về bảo dưỡng, duy trì tình trạng kỹ thuật của
tàu; trình độ của sĩ quan, thuyền viên… để tránh bị lưu giữ.
Đồng thời cũng cần lưu ý đến các khiếm khuyết thường tồn tại
đối với đội tàu biển Việt Nam
được liệt kê dưới đây để có biện pháp rà soát, khắc phục. Dưới đây là bảng tổng hợp các khiếm khuyết được phân loại
theo tính chất các khiếm khuyết do các chính quyền hàng hải của Tokyo
MOU phát hiện được trong giai đoạn từ 1-1-2006 đến 30-6-2009.
Tính chất các khiếm khuyết (kh/kh)
|
Số lượng kh/kh
|
Tỷ lệ lưu giữ
|
Giấy chứng nhận và
tài liệu của tàu
|
251
|
3.22%
|
Giấy chứng nhận khả
năng chuyên môn và trực ca của thuyền viên
|
60
|
0.77%
|
Trang bị cứu sinh
|
985
|
12.63%
|
An toàn chống cháy
|
1574
|
20.19%
|
Ổn định, cấu trúc
và các thiết bị liên quan
|
414
|
5.31%
|
Chở hàng và chở
hàng nguy hiểm
|
43
|
055%
|
Mạn khô
|
428
|
5.49%
|
Máy chính và máy phụ
|
277
|
3.55%
|
An toàn hàng hải
|
1630
|
20.91%
|
Thông tin liên lạc
VTĐ
|
367
|
4.71%
|
Tàu chở dầu, chở
hoá chất và chở gas
|
14
|
0.18%
|
Các an toàn bổ sung
đối với tàu chở hàng rời
|
6
|
0.08%
|
Thuyền viên và khu
vực sinh hoạt (ILO 147)
|
21
|
0.27%
|
Lương thực, thực phẩm
và nước uống (ILO 147)
|
20
|
0.26%
|
Khu vực làm việc
(ILO 147)
|
41
|
0.53%
|
Phòng ngừa tai nạn
(ILO 147)
|
82
|
1.05%
|
Trang bị chằng buộc
tàu (ILO 147)
|
33
|
0.42%
|
MARPOL, Phụ lục I
|
474
|
6.08%
|
MARPOL, Phụ lục II
|
4
|
0.05%
|
MARPOL, Phụ lục III
|
6
|
0.08%
|
MARPOL, Phụ lục IV
|
18
|
0.23%
|
MARPOL, Phụ lục V
|
187
|
2.40%
|
MARPOL, Phụ lục VI
|
43
|
0.55%
|
Khiếm khuyết vận
hành liên quan đến MARPOL
|
33
|
0.42%
|
Khiếm khuyết vận
hành liên quan đến SOLAS
|
324
|
4.16%
|
Khiếm khuyết liên
quan đến ISM
|
188
|
2.41%
|
Các biện pháp bổ
sung để nâng cao an ninh hàng hải
|
180
|
2.31%
|
Các biện pháp bổ
sung để nâng cao an ninh hàng hải
|
62
|
0.80%
|
Các khiếm khuyết
khác
|
7
|
0.09%
|
Tổng cộng:
|
7797
|
100%
|
Qua bảng tổng hợp trên cho thấy, các khiếm khuyết liên quan
đến an toàn chống cháy, an toàn hàng hải, trang bị cứu sinh, mạn khô, MARPOL
Phụ lục I là những khiếm khuyết thường gặp của đội tàu biển Việt Nam cũng như
thế giới.
Nguyên nhân chủ yếu của các khiếm khuyết dẫn đến việc tàu bị lưu giữ
10.
Đội tàu biển Việt Nam chạy tuyến quốc tế trong thời
gian vừa qua phát triển quá nhanh chóng, ra đời thêm rất nhiều các chủ tàu
khai thác tàu tuyến quốc tế, đặc biệt là các chủ tư nhân. Một bộ phận không
nhỏ các chủ tàu này chưa có đủ năng lực và kinh nghiệm trong việc quản lý,
khai thác tàu tuyến quốc tế. Một vài chủ tàu đã đưa các tàu chỉ được phép hoạt
động trong vùng biển Việt Nam ra khai thác tuyến quốc tế, do đó việc các chủ
tàu này bị lưu giữ là không thể tránh khỏi.
11.
Một số chủ tàu, đặc biệt là các chủ tàu nhỏ, chưa có sự
quan tâm đầy đủ đến công tác sửa chữa, bảo dưỡng và trang bị cho tàu; công
tác bảo dưỡng thường xuyên để duy trì trạng thái kỹ thuật tàu không được thực
hiện một cách thoả đáng.
12.
Cũng do đội tàu phát triển quá nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt
trầm trọng trong đội ngũ sĩ quan và thuyền viên, đặc biệt là sĩ quan và thuyền
viên đi tàu chạy tuyến quốc tế. Một bộ phận không nhỏ sĩ quan, thuyền viên
chưa thực sự có đủ trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ và tính mẫn cán
đáp ứng các yêu cầu công việc trên các tàu chạy tuyến quốc tế.
13.
Sự hiểu biết của một số chủ tàu và sĩ quan về các quy định
an toàn và phòng ngừa ô nhiễm môi trường của các điều ước quốc tế hết sức hạn
chế.
14.
Đội tàu biển chạy tuyến Việt Nam chạy tuyến quốc tế quá già
cũ, một số tàu được đóng mới trong nước thời kỳ bao cấp chưa thực sự đáp ứng
được các yêu cầu của các điều ước quốc tế. Sự bung ra của các cơ sở đóng tàu
trong thời gian qua, đặc biệt là các cơ sở nhỏ của địa phương và tư nhân chưa
có đủ năng lực đóng tàu chạy tuyến quốc tế, việc sử dụng các trang thiết bị
cũ để đóng tàu… cũng là nguyên nhân dẫn đến các khiếm khuyết của tàu.
15.
Do đội tàu biển Việt Nam nằm trong “Danh sách đen” của
Tokyo MOU, nên đội tàu Việt Nam bị chú ý kiểm tra 100% ở các cảng quốc gia
thành viên Tokyo MOU.
16.
Các quy định về an toàn và phòng ngừa ô nhiễm của các điều
ước quốc tế thay đổi một cách quá nhanh chóng, làm cho các chủ tàu không thể
đáp ứng đầy đủ theo đúng thời hạn quy định.
17.
Việc tăng giá nhiên liệu, sắt thép, giá sửa chữa,… trong thời
gian gần đây và cước vận tải, giá thuê tàu giảm, dẫn đến một số chủ tàu phải
giảm thiểu các chi phí trang bị thường xuyên, bảo dưỡng và sửa chữa tàu.
18.
Vẫn còn hiện tượng chưa cương quyết trong việc yêu cầu khắc
phục các khiếm khuyết của tàu tại các đợt giám sát kỹ thuật, trước khi cấp giấy
phép cho tàu rời cảng.
Các biện pháp đã áp dụng và sẽ áp dụng nhằm giảm thiểu hiện
tượng tàu biển Việt Nam
bị lưu giữ tại các cảng biển nước ngoài qua kiểm tra PSC
Hội nghị lần này nhắc lại những biện pháp đã được thống nhất
nêu trong Hội nghị tháng 3/2006, nhằm giảm thiểu hiện tượng tàu biển Việt Nam
bị lưu giữ tại các cảng biển nước ngoài qua kiểm tra PSC, đó là:
4.
Cục Hàng hải Việt Nam
·
Yêu cầu các Cảng vụ hàng hải phải kiểm tra các tàu bị lưu
giữ ở các cảng biển nước ngoài ngay khi tàu về đến cảng biển Việt Nam và yêu cầu
các tàu phải khắc phục các khiếm khuyết còn tồn tại.
·
Bảo đảm 100% tàu biển Việt Nam hoạt động tuyến quốc tế được
kiểm tra vào thời điểm thích hợp trước khi nhận hàng xuất khẩu hoặc trước khi
rời cảng đi các cảng nước ngoài (đối với các tàu chạy ballast), nội dung kiểm
tra như kiểm tra PSC và chỉ cấp phép rời cảng cho tàu khi các khiếm khuyết
phát hiện được qua kiểm tra đã được khắc phục.
·
Tăng cường tuyên truyền, phổ biến các nội dung, yêu cầu kiểm
tra PSC của IMO và Tokyo MOU đến cho các công ty quản lý tàu, sĩ quan và thuyền
viên của tàu.
·
Phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị chức năng trong việc
thu nhập, cung cấp thông tin về kiểm tra PSC đối với đội tàu biển Việt Nam để
kịp thời chỉ đạo áp dụng biện pháp khắc phục.
·
Phối hợp với các cơ sở đào tạo, huấn luyện sĩ quan, thuyền
viên trong việc cải tiến nội dung, chương trình đào tạo, huấn luyện chuyên
môn nghiệp vụ; cập nhật quy định pháp luật hàng hải quốc tế; nâng cao trình độ
Anh ngữ chuyên ngành.
·
Rà soát để đề nghị bổ sung, sửa đổi các quy định pháp luật
chuyên ngành nhằm nâng cao an toàn hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
từ lâu.
·
Nghiên cứu, đề xuất phương thức cung ứng thuận lợi, kinh tế
các tài liệu, ấn phẩm hàng hải bắt buộc phải có trên tàu biển hoạt động tuyến
quốc tế.
5.
Cục Đăng kiểm Việt Nam
·
Nâng cao chất lượng giám sát kỹ thuật trong đóng mới và sửa
chữa tàu, đảm bảo các tàu khi xuất xưởng tuân thủ đầy đủ các quy định của quy
phạm và các điều ước quốc tế, không còn khiếm khuyết dẫn đến việc tàu bị lưu
giữ.
·
Kiểm soát chặt chẽ công việc kiểm tra tàu của các đăng kiểm
viên, đảm bảo tất cả các tàu đều được kiểm tra đủ, đúng khối lượng theo quy định,
đăng kiểm viên không được tuỳ tiện miễn giảm các khiếm khuyết của tàu. Quy
trách nhiệm và xử lý thích đáng các đăng kiểm viên liên quan đến tàu bị lưu
giữ. Tăng cường công tác đào tạo nâng cao trình độ các đăng kiểm viên tàu biển.
·
Tăng cường khối lượng kiểm tra, đặc biệt là tại các đợt kiểm
tra định kỳ, đối với các tàu nhiều tuổi, tàu có tình trạng kỹ thuật hạn chế,
tàu chở dầu, tàu chở hàng rời và tàu chở hàng nguy hiểm; lập danh sách các
tàu có nguy cơ bị lưu giữ cao/ tàu có tình trạng kỹ thuật hạn chế, thông báo
cho các chủ tàu và đăng kiểm viên để có sự quan tâm đặc biệt đến các tàu này.
·
Kiểm soát nghiêm ngặt công tác đăng kiểm do các tổ chức
Đăng kiểm nước ngoài thực hiện theo sự uỷ quyền của Cục Đăng kiểm Việt Nam đối
với các tàu biển Việt Nam; trao đổi thông tin và phối hợp chặt chẽ với các tổ
chức này để giải quyết các tàu Việt Nam mang cấp của họ bị lưu giữ.
·
Thành lập Nhóm Đăng kiểm viên cơ động của Cục (từ tháng
4-2004) để trực tiếp tổng kiểm tra các tàu chạy tuyến quốc tế sau khi hoàn
thành đóng mới và sửa chữa định kỳ. Thực hiện việc tổng kiểm tra tình trạng kỹ
thuật và giám sát việc khắc phục khiếm khuyết do Chính quyền cảng đưa ra đối
với tất cả các tàu bị lưu giữ.
·
Hàng năm xuất bản “Hướng dẫn bảo dưỡng trên tàu” và “Hướng
dẫn khắc phục các khiếm khuyết PSC”, cấp phát cho tất cả các chủ tàu và từng
tàu.
·
Cập nhật đầy đủ danh mục thời hạn kiểm tra, các quy định mới
của các điều ước quốc tế và hướng dẫn áp dụng các quy định này cho từng tàu,
thông báo cho các chủ tàu bằng văn bản và qua trang tin điện tử của Cục Đăng
kiểm Việt Nam.
·
Thông báo cho các Chính quyền cảng việc lưu giữ tàu vì các
lý do không thoả đáng, có sự can thiệp kịp thời để giúp cho tàu được giải
phóng trong thời gian sớm nhất.
6.
Đối với các chủ tàu
·
Công ty tàu cần có biện pháp phối hợp trong việc kiểm soát
chất lượng, quá trình công tác của thuyền viên, nhằm loại bỏ những thuyền
viên yếu kém về tay nghề và đạo đức nghề nghiệp.
·
Nâng cao tính tuân thủ của thuyền viên đối với Hệ thống quản
lý an toàn và chất lượng.
·
Tăng cường công tác bảo quản bảo dưỡng tàu, xây dựng kế hoạch
cụ thể để có phương án sửa chữa ở hai đầu bến và tận dụng năng lực bảo quản bảo
dưỡng của thuyền viên khi tàu hành trình trên biển.
·
Quán triệt cho hàng ngũ thuyền viên (nhất là thuyền trưởng)
trong công tác ngoại giao, ứng xử với PSC nhằm tạo ra không khí làm việc thân
thiện và hợp tác.
·
Nâng cao chất lượng công tác bảo dưỡng, bảo quản, sửa chữa
tàu, chú trọng từng trang thiết bị cho tàu theo đúng quy phạm, công ước.
·
Đào tạo, hướng dẫn và nâng cao nhận thức của sĩ quan, thuyền
viên về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là trình độ ngoại ngữ. Đề cao ý thức
trách nhiệm của thuyền viên trong vận hành – khai thác tàu.
·
Cải tiến Hệ thống Quản lý an toàn, khắc phục triệt để những
khiếm khuyết do PSCO chỉ ra bằng cách khắc phục những sự không phù hợp còn tồn
tại trong những quy trình then chốt của Hệ thống, chú trọng đến tính hiệu quả
của Hệ thống.
Mặc dù các cơ quan, đơn vị có liên quan đã tích cực triển
khai các biện pháp nêu trên, tuy nhiên, số lượt tàu Việt Nam bị lưu giữ ở các
cảng biển nước ngoài, đặc biệt là trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn
có chiều hướng gia tăng. Do đó, trong thời gian tới, ngoài việc tiếp tục áp dụng
quyết liệt các biện pháp nêu trên, Cục Hàng hải Việt Nam kiến nghị các cơ
quan, đơn vị có liên quan triển khai một số công việc như sau:
· Nâng cao nhận thức và
trách nhiệm, phân loại và đánh giá nguyên nhân, đưa ra biện pháp sửa đổi cải
tiến trong công tác phối hợp giữa các cơ quan.
· Tăng cường công tác kiểm
tra xử lý, cụ thể là các Cảng vụ hàng hải cần mạnh dạn thực hiện các chế tài,
tránh tình trạng nể nang.
· Nghiên cứu lập qui
trình kiểm tra chủ yếu nhằm vào các khiếm khuyết mà tàu đã bị lưu giữ.
· Thông báo công khai tên
các tàu và chủ tàu có tàu bị lưu giữ.
· Phối hợp giữa Cục Hàng
hải Việt Nam và Cục Đăng
kiểm Việt Nam
đào tạo bắt buộc thuyền viên và công ty có tàu bị lưu giữ, học theo phương
pháp đào tạo thực hành tại chỗ.
· Kiểm tra 100% tàu biển
Việt Nam
chạy tuyến Quốc tế, ưu tiên các tàu bị lưu giữ ở nước ngoài.
· Làm rõ trách nhiệm của
các Cảng vụ hàng hải có tàu xuất cảnh từ khu vực mình quản lý đi nước ngoài bị
lưu giữ. Trách nhiệm cá nhân của các cán bộ Cảng vụ hàng hải và các Đăng kiểm
viên.
· Nếu tàu bị lưu giữ nhiều
lần thì không cho tàu đó chạy tuyến nước ngoài hoặc phải treo cờ nước ngoài –
đây là một trong những biện pháp mạnh mà Trung Quốc, Hàn Quốc đã áp dụng
trong thời gian qua nhằm hạn chế số lượt tàu treo cờ mình bị lưu giữ.
· Tăng cường kiểm tra PSC
đối với tàu của các nước hay giữ tàu Việt Nam .
· Nâng cao năng lực của
PSCO.
· Các Cảng vụ hàng hải có
tàu chạy nước ngoài nhưng chưa có sĩ quan kiểm tra PSC cử người có nghiệp vụ
kiểm tra tàu biển ra các Cảng vụ hàng hải Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An, Đà
Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, Cần Thơ để
đào tạo huấn luyện thực tế trên các tàu, nhằm đảm bảo có thể tự kiểm tra được
tàu tại khu vực phụ trách.
· Đề nghị các chủ tàu cập
nhật các thông tin qua mạng của Cục Hàng hải Việt Nam
và Cục Đăng kiểm Việt Nam
hoặc thông qua các Chi cục và các Cảng vụ hàng hải.
Hy vọng, qua Hội nghị này, các cơ quan hữu quan cùng chủ
tàu sẽ thống nhất được các biện pháp tăng cường cần áp dụng nhằm giảm thiểu,
tiến tới loại trừ việc tàu biển Việt Nam bị lưu giữ ở nước ngoài qua kiểm tra
PSC.
Tạp chí Đăng kiểm
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)